Nguyễn Xuân Phúc » Chính trị » Nắm ngải cứu trên đầu đồng chí Tổng tư lệnh

(Chính trị) - Mặc dù đã ở tuổi 90, nhưng những kỷ niệm về vị tổng tư lệnh huyền thoại, người anh cả của lực lượng vũ trang nhân dân vẫn còn đọng lại rất rõ trong hồi ức của đại tá Hoàng Minh Phương – nguyên trợ lý của Đại tướng Võ Nguyên Giáp suốt hơn 25 năm, từ 1950 đến sau 1975.

Là một cựu chiến binh từng công tác ở Bộ Tổng tư lệnh và Bộ Chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi xin góp một số tư liệu, để làm sáng tỏ thêm quá trình hình thành chủ trương “đánh nhanh thắng nhanh” và “đánh chắc tiến chắc” là những chủ trương liên quan trực tiếp đến thành bại của trận quyết chiến chiến lược này. Trong quá trình đó, ấn tượng sâu sắc nhất còn lưu mãi trong tôi là nắm ngải cứu trên đầu đồng chí Tổng Tư lệnh kiêm Chỉ huy trưởng chiến dịch.

Hồi đó tôi là cán bộ cấp trung đoàn, làm Trưởng đoàn cán bộ phiên dịch Bộ Tổng tư lệnh QĐNDVN, trực tiếp làm phiên dịch và sĩ quan liên lạc giữa Tổng tư lệnh và Thủ trưởng Bộ Tổng tham mưu với Trưởng và Phó đoàn Cố vấn quân sự Trung Quốc được Trung ương ĐCS Trung Quốc cử sang Việt Nam từ tháng 8/1950 để giúp quân đội ta kinh nghiệm tiến hành tác chiến tập trung, đưa cuộc kháng chiến chuyển mạnh sang giai đoạn mới. Trưởng đoàn là đồng chí Vi Quốc Thanh, Phó đoàn kiêm Tham mưu trưởng là đồng chí Mai Gia Sinh.

Ảnh chụp Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm khi ông đang nói chuyện cùng các chiến sĩ.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói chuyện cùng các chiến sĩ.

Cơ quan Tổng hành dinh đặt giữa rừng đại ngàn Việt Bắc. Nơi đây, mùa thu năm 1953, bộ óc cuộc kháng chiến đang phân tích kế hoạch quân sự mang tên viên Tổng chỉ huy thứ bảy của đội quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Với sự phối hợp và giúp đỡ của tình báo Trung Quốc, ta đã có trong tay bản kế hoạch vào hạ tuần tháng 9. Nava đề ra mục tiêu trong vòng 18 tháng tiêu diệt phần lớn chủ lực của quân đội ta, giành thắng lợi chiến lược quyết định, buộc Chính phủ ta phải đàm phán theo những điều kiện do Pháp đề ra, nhằm kết thúc chiến tranh mà vẫn duy trì được quyền lợi thực dân của chúng.

Lúc bấy giờ đồng chí Vi Quốc Thanh về nước mới sang, đã cùng Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp mà chúng tôi quen dùng tên gọi thân mật là anh Văn – lên gặp Bác Hồ ở Khuổi Tát. Sau khi nghe báo cáo kế hoạch của địch, Bác nói: “Nava có rất nhiều tham vọng, muốn giành thắng lợi về quân sự. Địch muốn chủ động, ta buộc chúng phải lâm vào bị động. Địch muốn tập trung quân cơ động thì ta có kế hoạch buộc chúng phải phân tán ra mà đánh”.

Theo chỉ đạo của Bác, anh Văn và đồng chí Vi Quốc Thanh nhất trí đề nghị với Tổng Quân uỷ và Bộ Chính trị: dùng một bộ phận quân chủ lực phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương mở các cuộc tiến công trên những hướng chiến lược hiểm yếu mà địch tương đối yếu, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai buộc địch phải phân tán quân cơ động để đối phó. Tiếp tục khoét sâu mâu thuẫn cơ bản giữa tập trung và phân tán binh lực của địch, tạo nên thế trận mới, thời cơ mới. Theo dõi sát tình hình để khi thời cơ xuất hiện thì nhanh chóng tập trung chủ lực, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, làm chuyển biến cục diện chiến tranh. Sau khi chủ trương tác chiến Đông Xuân được Tổng Quân uỷ và Bộ Chính trị thông qua, Bộ Tổng tham mưu đã khẩn trương xây dựng kế hoạch tác chiến.

Ngày 19-11-1953, trong một khu rừng thuộc huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên, Bộ Tổng tư lệnh triệu tập hội nghị quân chính để phổ biến kế hoạch tác chiến Đông Xuân. Hội nghị đang họp thì được tin ngày 20-11 địch nhảy dù chiếm đóng Điện Biên Phủ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp tạm dừng cuộc họp để chỉ thị cho Bộ Tổng tham mưu đôn đốc Đại đoàn 316 hành quân gấp lên Lai Châu. Lệnh cho Đại đoàn 304 hành quân nghi binh lên Tây Bắc rồi bí mật luồn rừng về Phú Thọ, giấu quân kín đáo, sẵn sàng đánh địch tiến công ra vùng tự do hoặc cơ động đi hướng khác khi tình hình đòi hỏi. Các Đại đoàn 308, 312, 351 sẵn sàng chuẩn bị để khi có lệnh là lên đường. Bộ Tổng tham mưu thì cử ngay bộ phận tiền trạm đi trước lên Tây Bắc bằng ô tô để bố trí Sở Chỉ huy tiền phương.

Hội nghị sắp kết thúc thì Bác Hồ đến thăm. Bác khen ngợi các đại biểu đã thảo luận sôi nổi và nhất trí với phương án tác chiến của Bộ Tổng tư lệnh. Bác nhấn mạnh: “Vì tình hình địch có thể còn thay đổi, nên các chú phải luôn luôn nắm vững phương châm chỉ đạo tác chiến mà Bộ Chính trị đã đề ra là: “Tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt”.

Sau khi làm việc cụ thể với cán bộ chiến trường xa, anh Văn, anh Thái cùng mấy cán bộ tham mưu tập trung nghiên cứu tình hình Tây Bắc. Ngày 26-11-1953, bộ phận nhẹ của tiền phương Bộ Tổng tư lệnh lên đường đi Tây Bắc.

Thu Đông 1952, quân ta mở Chiến dịch Tây Bắc, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng gần hết vừng Tây Bắc, gồm các tỉnh Yên Bái, Sơn La và Lai Châu (trừ thị xã và khu vực xung quanh). Địch phải thu thập tàn quân và các lực lượng ở Tạ Khoai, Cò Nòi, Sơn La về Nà Sản, lập thành tập đoàn cứ điểm. Sang đợt 3 chiến dịch, ta chủ trương tiến công Nà Sản.

Đêm 30-11-1952, ta tiêu diệt Pú Hồng và Bản Hồi, nhưng sau đó địch phản kích chiếm lại Pú Hồng. Đêm 1-12-1952, ta đánh Nà Xi và bản Vầy đều không thành công.

Đêm 4-12-1953, đoàn xe vượt đèo Pha Đin dài hơn 30km. Máy bay địch đã tăng cường đánh phá. Sáng 5-12, anh Hoàng Văn Thái – Phó Tổng tham mưu trưởng được Bộ Tổng tham mưu điện cho biết: địch đang rút các đơn vị Âu Phi ở Lai Châu về Điện Biên Phủ bằng đường không. Anh lệnh ngay cho Đại đoàn 316 đang trên đường đến Tuần Giáo đẩy nhanh tốc độ hành quân, không để cho bọn địch còn lại ở Lai Châu rút chạy.

Sáng 6-12, đoàn đến Sở Chỉ huy tiền phương đầu tiên của Bộ Tổng tư lệnh ở hang Thẩm Púa. Bộ Tổng tham mưu điện cho biết thêm: địch đã lệnh cho các đơn vị lính ngụy ở Lai Châu rút về Điện Biên Phủ theo đường bộ qua Mường Pồn. Ngày 7-12, anh Thái trực tiếp giao nhiệm vụ cho Đại đoàn 316 tiêu diệt quân địch rút chạy, giải phóng Lai Châu, Đại đoàn 308 gấp rút tiến về Điện Biên Phủ, cho đơn vị đi đầu nhanh chóng vòng theo đường tắt xuống chốt chặn ở phía nam Hồng Cúm, đề phòng địch rút chạy về hướng Thượng Lào. Ngày hôm sau, anh triệu tập cán bộ công binh giao nhiệm vụ cùng với thanh niên xung phong và dân công gấp rút mở rộng đường Tuần Giáo đi Mường Thanh, bảo đảm cho xe kéo pháo và xe vận tải có thể vào sát chiến trường. Anh Cao Pha được giao nhiệm vụ tổng hợp các nguồn tin để báo cáo cụ thể tình hình địch.

Trung tướng Vũ Xuân Chiêm (thứ 2 từ trái sang) cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Song Hào và Thượng tướng Hoàng Văn Thái bàn kế hoạch giải phóng miền Nam năm 1975.

Trung tướng Vũ Xuân Chiêm (thứ 2 từ trái sang) cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Song Hào và Thượng tướng Hoàng Văn Thái bàn kế hoạch giải phóng miền Nam năm 1975.

Lúc này, căn cứ vào báo cáo và bản vẽ của các mũi trinh sát tiền phương và các đơn vị ở Trung đoàn 148 đã bám sát và đánh địch, kết hợp với tin trinh sát kỹ thuật, ta đã nắm được tương đối cụ thể địa hình và các vị trí đóng quân của địch. Lực lượng địch đã lên đến chín tiểu đoàn. Chúng đã san bằng thị trấn Mường Thanh để xây dựng Sở Chỉ huy và trận địa pháo. Sân bay Mường Thanh đã được sửa chữa và sử dụng.

Ngày 9-12-1953, căn cứ vào tình hình địch và địa hình, hai đồng chí Thái, Mai cùng một số cán bộ và cố vấn tham mưu bàn cách đánh. Sau khi cân nhắc thuận lợi và khó khăn về cách đánh cũng như về khả năng bảo đam hậu cần, hai đồng chí nhất trí chọn phương án đánh nhanh, thắng nhanh để chuẩn bị báo cáo với anh Văn.

Ngày 1-1-1954, Bộ Chính trị chỉ định cơ quan lãnh đạo và chỉ huy chiến dịch. Anh Văn được giao nhiệm vụ trực tiếp làm Chỉ huy trưởng chiến dịch kiêm Bí thư Đảng uỷ, anh Thái làm Tham mưu trưởng, anh Liêm làm Chủ nhiệm Chính trị, anh Giang làm Chủ nhiệm Cung cấp. Cả ba anh đều được chỉ định là uỷ viên Đảng uỷ mặt trận Điện Biên Phủ.

Ngày 5-1-1954, anh Văn cùng Sở Chỉ huy tiền phương Bộ Tổng tư lệnh lên đường đi Tây Bắc. Cùng đi có các anh Trần Văn Quang – Cục trưởng Cục Tác chiến, Lê Trọng Nghĩa – Cục trưởng Cục Quân báo, Hoàng Đạo Thúy – Cục trưởng Cục Thông tin. Về phía bạn có đồng chí Vi Quốc Thanh và một số cố vấn.

Sáng ngày 12-1-1954, anh Văn đến Tuần Giáo chợp mắt được một lúc thì anh Thái đã từ Sở Chỉ huy ra đón. Anh Thái tranh thủ báo cáo tình hình địch, ta, địa hình Điện Biên Phủ và phương án đánh nhanh thắng nhanh đã bàn với đồng chí Mai và anh Liêm, anh Giang. Anh Văn cảm thấy phương án này không ổn, trái hẳn với dự kiến của Tổng Quân uỷ trình lên Bộ Chính trị ngày 6-12-1953. Anh muốn vào sớm để gặp cán bộ và nghe thêm tình hình cụ thể.

Chiều ngày 12-1, anh Văn đi tiếp vào Sở Chỉ huy ở hang Thẩm Pha, tranh thủ triệu tập hội nghị Đảng uỷ. Trong cuộc họp, tất cả đảng uỷ viên đều nhất trí chọn phương châm “đánh nhanh thắng nhanh”. Mọi người cho rằng, quân ta đang sung sức, quyết tâm chiến đấu rất cao, lại có trọng pháo và pháo cao xạ lần đầu xuất trận, ta có thể tạo bất ngờ và đánh thắng. Nếu không đánh sớm, để tập đoàn cứ điểm được tăng cường quá mạnh, ta sẽ bỏ lỡ cơ hội đánh tiêu diệt lớn trong Đông Xuân này. Đánh dài ngày sẽ rất khó giải quyết vấn đề tiếp tế.

Anh Văn không nhất trí với ý kiến đó. Dĩ nhiên đánh nhanh thắng nhanh có nhiều điều lợi, nhưng vấn đề mấu chốt là có bảo đảm chắc thắng hay không? Bộ đội ta, tuy đã được chuẩn bị về tư tưởng và chiến thuật để đánh tập đoàn cứ điểm, nhưng chưa có kinh nghiệm thực tế. Ta còn phải mất thêm một thời gian nữa để làm đường và kéo pháo. Địch còn có thể tăng quân, xây dựng công sự và bố phòng ngày càng vững chắc. Ngay bây giờ đánh nhanh đã khó. Rồi đây, chắc chắn lại càng khó hơn.

Tuy vẫn không tin vào phương án đánh nhanh thắng nhanh, nhưng anh Văn tự thấy mình vừa mới đến chiến trường, chưa có đủ cơ sở thực tế để bác bỏ phương án đã được các đồng chí đi trước lựa chọn, lại là đa số trong Đảng uỷ và được tất cả các đồng chí bạn đồng tình. Cũng không còn thời gian xin ý kiến của Bác và Bộ Chính trị, vì không thể trao đổi vấn đề tuyệt mật này qua điện đài, viết thư cho cán bộ cầm về rồi cầm thư trả lời lên thì không kịp. Anh đồng ý triệu tập hội nghị cán bộ vào ngày 14-1. Anh dặn Cục Quân báo cho điều tra thật kỹ những vị trí địch ở cánh đồng phía tây, trên hướng đột kích chủ yếu vào Sở Chỉ huy tập đoàn cứ điểm. Anh yêu cầu báo cáo tình hình địch mỗi ngày hai lần, đặc biệt là hiện tượng tăng quân và củng cố công sự. Khi có hiện tượng đột xuất thì phải báo cáo ngay, bất kể ngày hay đêm. Anh trao đổi riêng những suy nghĩ của mình với đồng chí Hiếu, Chánh Văn phòng; dặn là biết vậy để giúp anh theo dõi, không được nói với bất cứ ai.

Ngày 14-1-1954, phương án đánh nhanh thắng nhanh và nhiệm vụ của các đơn vị, các binh chủng đã được phổ biến trên một sa bàn lớn ở hang Thẩm Púa, thời gian tác chiến dự kiến là hai đêm ba ngày. Trước mắt, cần tập trung lực lượng làm gấp đường kéo pháo, rồi dùng sức người kéo pháo vào trận địa dã chiến, bí mật, an toàn. Không khí hội nghị phấn khởi và tin tưởng, chỉ huy các đại đoàn đều biểu thị quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Không một ai có ý kiến khác.

Theo báo cáo của Cục Quân báo, lúc này binh lực ở Điện Biên Phủ đã từ sáu tiểu đoàn lúc đầu, tăng lên 11 tiểu đoàn bộ binh và dù. Hằng ngày máy bay địch, kể cả máy bay C.119 do phi công Mỹ lái, tiếp tục vận chuyển và thả dù hàng trăm tấn lương thực, vũ khí, đạn dược, dây kẽm gai và cọc sắt xuống sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm. Đồi Độc Lập lúc đầu chỉ là một cứ điểm tiền tiêu, nay đã trở thành một trung tâm đề kháng vững chắc. Cụm cứ điểm Him Lam đã được tăng cường.

Hướng tấn công của 5 cánh quân trong chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Hướng tấn công của 5 cánh quân trong chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Đêm 17 rạng ngày 18-l-1954, Sở Chỉ huy chiến dịch từ cây số 15 chuyển vào ngang cây số 622, trong một khu rừng có suối thuộc địa phận bản Nà Tấu. Các đồng chí trong Bộ Chỉ huy chiến dịch đi kiểm tra đôn đốc các đơn vị: Việc làm đường kéo pháo từ cửa rừng Nà Nham (cột số 67 cũ, cách Mường Thanh 17km) đã được hoàn thành sớm hơn dự kiến. Nhưng việc kéo pháo phải kéo dài. Đến ngày 19-1, pháo vẫn chưa vào tới vị trí.
Ngày nổ súng trước định ngày là ngày 20-1, nay được định là ngày 25-l-1954, giờ G là 17giờ.

Sáng ngày 23-1, sau khi kiểm tra tình hình chiến đấu của Đại đoàn 312 qua điện thoại, nghe Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn báo cáo là đơn vị phải đột phá liên tục ba phòng tuyến của địch mới vào được trung tâm, anh Văn gọi anh Cao Pha sang giao nhiệm vụ.

Cũng trong ngày 23-1, anh Phạm Kiệt, Cục phó Cục Bảo vệ được cử làm phái viên Bộ Tổng Tư lệnh theo dõi việc kéo pháo vào trận địa phía tây-bắc sân bay, đề nghị gặp anh Văn qua điện thoại. Anh Kiệt nói: “Pháo của ta đều bố trí trên trận địa dã chiến. Địa hình rất trống trải nếu bị phản pháo hoặc không quân đánh phá sẽ khó tránh khỏi tổn thất. Một số pháo vẫn chưa kịp được vào vị trí. Đề nghị anh cân nhắc”. Sau này, anh Văn cho biết: lời của anh Lê Trọng Tấn mặc dù không nhấn mạnh khó khăn mà vẫn biểu thị quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ nhưng đã làm cho anh suy nghĩ rất nhiều… Đặc biệt lời của anh Phạm Kiệt, người duy nhất phát hiện khó khăn, đã củng cố thêm quyết tâm của anh là không thể mạo hiểm đánh theo kế hoạch đã đề ra.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và tướng Phạm Kiệt (bên trái) trên vùng biển Quảng Ninh năm 1973

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và tướng Phạm Kiệt (bên trái) trên vùng biển Quảng Ninh năm 1973

Ngày 24-11, một chiến sĩ của Đại đoàn 312 không may bị địch bắt. Qua tin trinh sát kỹ thuật, ta lại biết địch đã nắm được thời gian ta nổ súng là 17 giờ ngày 25-1 và thông báo cho nhau. Anh Văn quyết định hoãn giờ nổ súng lại 24 tiếng.

Tảng sáng ngày 26-1, trời rét đậm, sương mù dày đặc trong rừng Nà Tấu. Tôi đang ra suối rửa mặt thì liên lạc xuống gọi lên gặp anh Văn gấp. Anh đang ngồi nghiên cứu tình hình qua tấm bản đồ trải trên bàn nứa, đầu quấn đầy lá ngải cứu. Tôi ngạc nhiên hỏi: “Anh nhức đầu hay sao mà đắp nhiều ngải cứu như thế ?”. Anh đáp: Suốt đêm qua mình không ngủ được. Cậu sang báo cáo đồng chí Vi là tôi có việc cần bàn gấp sáng nay. Sau khoảng nửa giờ trao đổi, cố vấn Vi đã nhất trí với sự phân tích, đánh giá của Đại tướng và tán đồng việc hoãn cuộc tiến công, chuyển sang phương châm “đánh chắc tiến chắc”.

Hơn nửa giờ sau, các đồng chí trong Đảng uỷ mặt trận đã có mặt đủ ở Sở Chỉ huy. Anh Văn trình bày những suy nghĩ từ lâu về cách đánh tập đoàn cứ điểm, về những khó khăn chưa thể vượt qua, rồi tóm lại: Ta vẫn giữ vững quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ nhưng phải thay đổi cách đánh. Anh Văn kết luận: “Để bảo đảm nguyên tắc cao nhất là: “đánh chắc thắng”, cần chuyển phương châm chiến dịch từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc tiến chắc”. Nay quyết định hoãn cuộc tiến công. Ra lệnh cho bộ đội trên toàn mặt trận lui về vị trí tập kết và kéo pháo ra. Công tác chính trị bảo đảm chấp hành triệt để mệnh lệnh lui quân như mệnh lệnh chiến đấu. Hậu cần chuyển sang chuẩn bị theo phương châm mới”. Lúc đó là 11 giờ trưa ngày 26-1-1954.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Quân ủy trung ương đang theo dõi diễn biến của chiến dịch Hồ Chí Minh.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Quân ủy trung ương đang theo dõi diễn biến của chiến dịch Hồ Chí Minh.

Sau quyết định ngày 26-1, vào những ngày giáp Tết, 31-1-1954, Sở Chỉ huy chiến dịch chuyển vào khu vực Mường Phăng, cách trung tâm Mường Thanh theo đường chim bay gần 15km. Đây là Sở Chỉ huy thứ ba và cũng là Sở Chỉ huy chính của Chiến dịch Điện Biên Phủ. Cũng như hai Sở Chỉ huy trước, đây cũng đồng thời là Sở Chỉ huy tiền phương của Tổng Tư lệnh. Vì tại đây, anh Văn còn chỉ đạo hoạt động tác chiến của các chiến trường Bình – Trị – Thiên, Liên khu V, Tây Nguyên, Nam Bộ và quân tình nguyện của Việt Nam trên chiến trường hai nước bạn. Đồng bằng Bắc Bộ và các nhiệm vụ khác ở hậu phương, do các đồng chí Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu tưởng, Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị trực tiếp chỉ đạo.

Suốt đêm giao thừa 29 Tết, anh Văn thao thức theo dõi việc kéo pháo ra. Đến gần sáng, anh Phạm Ngọc Mậu gọi điện báo cáo là đã hoàn thành nhiệm vụ, toàn bộ pháo đã an toàn về vị trí. Anh Mậu không quên báo cáo với Tổng Tư lệnh là đêm hôm qua, do anh Tấn7 nhắc, do sáng kiến của anh Phạm Kiệt, các đồng chí chỉ huy kéo pháo đã mừng thắng lợi và đón giao thừa bằng một “bữa tiệc tất niên”, mỗi người lưng bát chè và nửa điếu thuốc lá! Anh Văn xúc động gửi lời mừng Xuân và mừng bộ đội đã lập được một kỳ tích đáng khen.

Việc chọn Nam Tây Nguyên làm hướng tấn công chiến lược trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 của tướng Giáp được xem là một quyết định tạo nên tính lịch sử cho chiến dịch quân sự lớn nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Việc chọn Nam Tây Nguyên làm hướng tấn công chiến lược trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 của tướng Giáp được xem là một quyết định tạo nên tính lịch sử cho chiến dịch quân sự lớn nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Sáng mùng 1 Tết (3-2-1954), sương lạnh còn trùm khắp núi rừng. Trời chưa sáng hẳn, những tiếng pháo địch đã từ Mường Thanh vọng tới.

Sau khi sang lán tác chiến chúc Tết cơ quan tham mưu chiến dịch, anh Văn sang lán đồng chí Vi Quốc Thanh chúc Tết Đoàn cố vấn và báo tin thắng lợi trên các chiến trường. Đây là lần thứ tư, vì sự nghiệp kháng chiến của nhân dân Việt Nam, các đồng chí cố vấn Trung Quốc phải tiếp tục ăn một cái Tết xa Tổ quốc, xa gia đình, và lần này, ở ngay mặt trận tại miền Tây Bắc Việt Nam xa xôi. Đồng chí Vi vui vẻ chúc mừng năm mới và những thắng lợi mới của quân và dân ta.

Thắng lợi của đợt 1 chiến dịch chứng tỏ ta đã tìm ra cách đánh đúng. Dù kẻ địch đã hết sức đề phòng, chúng vẫn không tránh khỏi bị tiêu diệt. Tiếp tục quán triệt phương châm đánh chắc, tiến chắc để chuẩn bị cho đợt 2, anh Văn cùng Đảng uỷ mặt trận đề ra ba nhiệm vụ cho các đơn vị:

1. Nhanh chóng tiếp cận, bao vây địch bằng một hệ thống trận địa tiến công và bao vây vững chắc, trong tầm bắn có hiệu quả của tất cả các loại pháo, súng, lớn, nhỏ của ta; chia cắt phân khu Hồng Cúm với phân khu trung tâm của địch.

2. Theo nguyên tắc bảo đảm chắc thắng, tiếp tục diệt thêm một số cứ điểm ở ngoại vi tập đoàn cứ điểm.

3. Khống chế có hiệu quả cả hai sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm; chuẩn bị đánh địch phản kích; tăng cường các hoạt động tiêu hao, quấy rối.

Trong ba nhiệm vụ trên, xây dựng trận địa tiến công và bao vây là quan trọng nhất. Đồng chí Vi Quốc Thanh và Đoàn cố vấn đã nhiệt tình giới thiệu kinh nghiệm của bạn và hướng dẫn cụ thể cho cán bộ ta.

18 giờ ngày 30-3-1954, quân ta bắt đầu mở đợt tiến công thứ hai. Nhiệm vụ của đợt này là đánh chiếm các ngọn đồi phía đông, chiếm sân bay, triệt đường tiếp tế, tiếp viện, thắt chặt vòng vây, từng bước thu hẹp phạm vi chiếm đóng và vùng trời của địch. Đây là đợt đánh dài ngày và ác liệt nhất của chiến dịch. Qua nhiều ngày đêm giành đi giật lại quyết liệt, ta đã chiếm giữ được phần lớn che ngọn đồi phía đông nhưng chỉ chiếm được một nửa đồi A1.

Như vậy, là quyết định ngày 26-1-1954, tuy đã được thực tiễn chứng minh là đúng qua những trận thắng trong đợt một và đợt hai, nhưng vẫn còn đứng trước những thử thách cực kỳ to lớn.

Sau khi đi sâu chỉ đạo giải quyết cụ thể các vấn đề tồn tại về chiến thuật, kỹ thuật, về bảo đảm tiếp tế, đặc biệt là tiến hành thắng lợi cuộc đấu tranh tư tưởng sâu rộng chống hữu khuynh tiêu cực, anh Văn công Đảng uỷ và Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định mở đợt tiến công thứ ba bắt đầu từ đêm 1-5.

8 giờ tối ngày 6-5-1954, tôi đang lấy tin trong hầm tác chiến thì anh Văn đến. Sau khi nghe báo cáo tình hình chuẩn bị chiến đấu của các đơn vị, anh bảo tôi đưa sổ để ra mệnh lệnh tiến công.

Lợi dụng lúc quân địch đang bàng hoàng vì sức chấn động của ngót 1.000 cân thuốc nổ, bộ binh ta từ nhiều hướng đánh lên đồi A1, tiêu diệt toàn bộ tiểu đoàn lê dương, bắt sống chỉ huy và 200 binh lính. Các đơn vị khác cũng nổ súng đúng giờ, đánh chiếm các vị trí còn lại trên dãy đồi phía đông ở phía bắc cầu Mường Thanh. Đại đoàn 308 đã đánh chiếm vị trí Nà Noọng ở phía tây-nam Sở Chỉ huy Đờ Cát 300 mét. Thắng lợi cuối cùng đã ở trong tầm tay.

Sáng ngày 7-5, mặc dầu thấm mệt, anh Văn, anh Thái, vẫn nán lại hầm tác chiến, chỉ thị cho quân báo và các tổ trinh sát theo dõi từng động tính của địch. Anh Văn trực tiếp gọi điện thoại, lệnh cho chỉ huy các đại đoàn phải bao vây thật chặt, không để một tên nào chạy thoát. Đồng ý cho các đơn vị chưa hoàn thành nhiệm vụ trong đêm được tiếp tục đánh ban ngày.

14 giờ 30, anh Văn hội ý với đồng chí Vi: Tranh thủ lúc địch đang rối loạn, ra lệnh ngay cho các đơn vị đồng loạt mở cuộc tổng công kích vào Mường Thanh.

17 giờ 30, Đại đoàn 312 báo cáo về toàn bộ địch trong phân khu trung tâm đã đầu hàng. Đã bắt sống được tướng Đờ Cát. Cả khu vực Sở Chỉ huy Mường Phăng vốn rất nghiêm mật, bỗng sôi động hẳn lên, tiếng reo hò vang dội.

Tôi tiếc rằng mình không phải là nhà văn để miêu tả lại thật hay những phút giây hân hoan xúc động đó. Giờ phút ấy, tôi bỗng nhớ lại hình ảnh anh Văn sáng ngày 26-1, tuy mệt mỏi nhưng gương mặt vẫn cương nghị trước khi hạ một quyết tâm táo bạo kịp thời. Tôi nhớ lại những ngày tháng 4 đầy trắc trở khó khăn anh phải tập trung suy nghĩ nhớ những đêm anh thao thức vì trời đổ mưa to, sấm chớp đầy trời…

Tiếng chuông điện thoại cắt đứt dòng cảm xúc của tôi. Đồng chí Vi gọi điện: “Chúc mừng Võ Tổng và các đồng chí Việt Nam!”. Anh Văn trả lời: “Chân thành cám ơn sự giúp đỡ của đồng chí Vi, các đồng chí cố vấn và nhân dân Trung Quốc”.

Lời cảm ơn của anh Văn rất chân thực: Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, ở cơ quan chỉ huy cũng như ở các đại đoàn, trước cũng như khi thay đổi phương châm chiến dịch, các bạn Trung Quốc đã giúp đỡ ta một cách tích cực nhiệt tình. Bạn coi cuộc chiến đấu của ta cũng như của bạn, không hề gian khổ. Bạn đã giới thiệu cho ta kinh nghiệm chiến đấu của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc trong chiến dịch vây hãm quân Tưởng ở Hoài Hải, của Quân chí nguyện Trung Quốc ở Triều Tiên, đặc biệt là kinh nghiệm xây dựng công sự trận địa… Bộ đội ta đã vận dụng những kinh nghiệm đó một cách sáng tạo.

Trong toàn chiến dịch, cùng 20 khẩu pháo Trung Quốc đã viện trợ cho ta 3.600 viên đạn pháo 105 ly, chiếm 18% tổng số đạn sử dụng trên mặt trận chưa kể các loại đạn nhỏ và thực phẩm, thuốc quân y13. Bạn đã giúp ta 1.700 tấn lương thực, chiếm 10,6% tổng số gạo dùng trong chiến dịch. Tỷ lệ không cao, nhưng nghĩa tình rất sâu nặng. Chiến tranh Triều Tiên vừa kết thúc, bạn còn nhiều khó khăn. Đây là số gạo từ Vân Nam chuyển đến bản Nậm Cúm ở sát biên giới với Lai Châu. Ta đã kết hợp đường bộ với đường sông, dùng gồng gánh dùng thuyền, dùng mảng vượt qua 102 ghềnh thác chở về Điện Biên Phủ trong tháng 4-1954. Trong những ngày cuối chiến dịch, một tiểu đoàn pháo ĐKZ 75 ly, một tiểu đoàn gồm 12 giàn hỏa tiễn sáu nòng do các bạn Trung Quốc trang bị và huấn luyện, cũng đã kịp đưa lên Điện Biên Phủ tham gia trận cấp tập hoả lực đêm 6-5. Mặc dù độ tản mát còn cao, nhưng đuôi lửa tiếng rít và tiếng nổ dữ dội của loại vũ khí này đã làm tăng thêm nỗi kinh hoàng của quân địch vốn đã kiệt sức và tuyệt vọng sau 54 ngày đêm chiến đấu.

Hôm sau, 8-5, tại Mường Phăng cơ quan hậu cần tổ chức một bữa “tiệc” bánh cuốn với rượu vang chiến lợi phẩm để ăn mừng chiến thắng. Hai đồng chí Vi Quốc Thanh, Mai Gia Sinh và một số cố vấn cùng dự liên hoan với Bộ Chỉ huy chiến dịch. Anh Văn đã cùng đồng do Vi hân hoan nâng cốc chúc mừng thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ và chiến cuộc Đông Xuân 1953 – 1954, chúc mừng tình hữu nghị chiến đấu giữa nhân dân và quân đội hai nước anh em…

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và đại tá Hoàng Minh Phương - Ảnh: Chụp lại ảnh tư liệu của đại tá Phương

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và đại tá Hoàng Minh Phương – Ảnh: Chụp lại ảnh tư liệu của đại tá Phương

Dĩ nhiên chiến thắng Điện Biên Phủ trước hết là chiến thắng của ý chí và trí tuệ cửa những người trực tiếp chiến đấu và đổ máu trên chiến trường, của toàn dân ta ở hậu phương đã dốc sức chi viện cho tiền tuyến. Sự viện trợ quý báu về vật chất và kinh nghiệm của Trung Quốc, Liên Xô và các nước anh em sự đồng tình ủng hộ của Đảng cộng sản và nhân dân lao động Pháp, của nhân dân tiến bộ toàn thế giới tuy không phải là quyết định nhưng là yếu tố vô cùng quan trọng. Phát huy sức mạnh của toàn dân, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại luôn luôn là bài học thắng lợi của cách mạng và chiến tranh cách mạng Việt Nam.

Ba mươi lăm năm sau, trong cuốn hồi ức về Điện Biên Phủ, anh Văn coi quyết định ngày 26-1-1954 thay đổi phương châm và cách đánh chiến dịch là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của mình. Tôi nghĩ: Đây là một quyết định lịch sử trong một chiến dịch lịch sử.

Đại tá Hoàng Minh Phương (Nguyên Trợ lý Bộ Chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ)

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về [email protected]
Thích và chia sẻ bài này trên: