Nguyễn Xuân Phúc » An Ninh - Quốc Phòng » Khát vọng làm chủ bầu trời của máy bay Việt Nam, do người Việt Nam chế tạo

(An Ninh - Quốc Phòng) - Vùng đất, lòng đất và vùng trời là những cấu thành lãnh thổ của quốc gia chúng ta. Bảo vệ sự bình yên cho tổ quốc là sứ mệnh được trao cho bộ đội Phòng không – Không quân. Nhiệm vụ đó được những người lính mang quân phục màu xanh da trời xuất sắc hoàn thành. Với chức năng là cơ quan đầu ngành của khoa học công nghệ phòng không – không quân, viện kỹ thuật Phòng không – không quân được lập ra nhằm đáp ứng những giải pháp công nghệ, kỹ thuật phục vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu. Trong quá trình xây dựng và phát triển, viện đã góp phần chế tạo ra những thiết bị, vũ khí đáp ứng được nhu cầu trang bị của quân chủng, trong đó là các thế hệ máy bay có người lái và không người lái của người Việt, do người Việt chế tạo.

Trước hết chúng ta cùng tìm hiểu về:

1. Lịch sử ra đời và phát triển của những chiếc máy bay đầu tiên đến những chiếc UAV ngày nay

2. Ngày 4/3/1978, quân ủy trung ương phê chuẩn dự án “Xây dựng cơ sở thiết kế và chế thử máy bay cánh quạt loại nhỏ”, cho phép quân chủng Không quân, nay là quân chủng Phòng không – Không quân thực hiện.A1

Thời đó, chỉ với hơn 10 cán bộ nhân viên của Viện phòng không không quân, trong hoàn cảnh đất nước vừa dành độc lập, còn nhiều khó khăn, nhưng những nỗ lực của những người lính kỹ thuật đã giúp Việt Nam chúng ta lần đầu tiên trong lịch sử chế tạo được máy bay có người lái.

Ở thời điểm này, ngành khoa học hàng không thế giới đã phát triển được hơn 1 thế kỉ. Vì sự phức tạp của công nghệ, sự đòi hỏi của ngành khoa học hiện đại này vượt quá khả năng đầu tư của hầu hết các quốc gia. Nhưng điều đáng nói là Việt Nam chúng ta đã tạo nên một ngoại lệ.

Ngày 25/9/1980, “chim sắt của Việt Nam” cất cánh

Chiếc máy bay đầu tiên do người Việt Nam chế tạo mang tên TL-1. TL-1 là máy bay trinh sát loại nhỏ mô phỏng theo máy bay Rallye 220 GT của Pháp. Điều khác biệt duy nhất ở đây chính là  Rallye là một sản phẩm của một nền hàng không tiến tiến, thuộc một nước tư bản, còn TL-1 là sản phẩm của ý chí, nỗ lực vượt lên chính mình của những người lính Việt Nam, để chinh phục một đỉnh cao công nghệ của nhân loại trong thời điểm nước ta vừa bước ra khỏi chiến tranh; đưa Việt Nam trở thành số ít các nước trên thế giới có thể chế tạo thành công máy bay.A2

Ngày 25/9/1980, chiếc TL-1 đầu tiên, do 2 phi công Nguyễn Văn Sửu và Nguyễn Xuân hiển điều khiển, cất cánh thành công tốt đẹp. Chuyến bay đầu tiên kéo dài 7 phút 30 giây, và đã trở thành chuyến bay mở đường cho tất cả các chương trình bay sau này do người Việt Nam xây dựng.

A3

Sau chiếc máy bay TL-1 thành công đầu tiên, những chiếc máy bay HL-1 và HL-2 với chức năng huấn luyện lần lượt ra đời.

Mục đích ban đầu của dự án này là đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu và công nhân kỹ thuật biết thiết kế, chế thử và tổ chức bay thử một số loại máy bay từ đơn giản đến phức tạp đã thành công mĩ mãn. Từ đó mở ra hướng đi đầy triển vọng, làm nòng cốt cho công nghiệp hàng không Việt Nam sau này. Tuy nhiên, vì một số lý do khách quan, mục tiêu ấy đã dừng lại ở đó, những người lính kỹ thuật không quân trở về với nhiệm vụ bảo đảm kỹ thuật cho huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của quân chủng.

Tưởng chừng “giấc mơ bay” từ đó đã kết thúc, nhưng những kết quả đạt được trong dự án chế thử máy bay đã đặt nền móng cho cơ sở sản xuất kỹ thuật của viện kỹ thuật Phòng không – Không quân mà các thế hệ sau này được kế thừa.

Năm 1996, “Giấc mơ bay” lại tiếp tục tung cánh!

Kinh nghiệm, tinh thần của thế hệ đàn anh đi trước đã được truyền lại cho những thế hệ nghiên cứu viên Viện kỹ thuật Phòng không – Không quân sau này để họ viết tiếp khát vọng làm chủ bầu trời bằng những sản phẩm máy bay không người lái gọi tắt là UAV của Việt Nam.

Giữa những năm 1990, dự án nghiên cứu mục tiêu bay, thiết bị phục vụ bắn đạn thật cho bộ đội phòng không đã được khởi động.

Năm 1996, Việt Nam đã chế tạo thành côngmục tiêu bay M-96, đánh dấu một bước tiến vượt bậc của ngành kỹ thuật hàng không nói chung và máy bay không người lái nói riêng. Mục tiêu bay không chỉ dùng cho nhiệm vụ huấn luyện đơn vị phòng không, mà còn là nền tảng để Việt Nam chúng ta thiết kế UAV trinh sát.

Tuy nhiên, so với các loại mục tiêu bay trên thế giới dùng cho lực lượng phòng không, không quân huấn luyện, M-96 có nhiều hạn chế như: tầm bay ngắn, trần bay thấp và tốc độ nhỏ. Do đó, M-96 tiếp tục được nghiên cứu cải tiến và nâng cấp với tầm hoạt động rộng hơn, trần bay cao hơn, tốc độ lớn hơn, đặc biệt là thiết bị này bay theo chương trình tự động định sẵn. Năm 2001, chiếc M-96 nâng cấp với tên gọi M-100CT đã được thử nghiệm thành công, đảm bảo các hệ số kỹ thuật chỉ sau nửa năm nâng cấp.

A4

Năm 2004, Viện kỹ thuật Phòng không – Không quân đã chính thức hoàn thiện và công bố máy bay không người lái bay tự động theo chương trình đầu tiên của Việt Nam với số hiệu M-100CT. Thành công ấy đưa Việt Nam trở thành 1 trong 5 nước Đông Nam Á có thể thiết kế, chế tạo thành công máy bay không người lái, cùng với Singapore, Thái Lan, Indonesia và Malaysia.

Năm 2004, sự trở lại của máy bay có người lái do Việt Nam sản xuất

Ngày 9/2/2004, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phạm Văn Trà ký quyết định giao nhiệm vụ cho Quân chủng Phòng không – Không quân thực hiện dự án: “Chế tạo máy bay lưỡng dụng siêu nhẹ VNS-41”. VNS-41 được chế tạo để phục vụ tuần tra bảo vệ rừng, cứu nạn và huấn luyện phi công sơ cấp. Thủy phi cơ VNS-41 được thiết kế dựa theo máy bay Che-22 của Nga với tỉ lệ nội địa hóa là 70%.

A5

VNS-41 dài 6,97m, cao 2,53m, trọng lượng cất cánh tối đa 780kg. Máy bay trang bị 2 động cơ cánh quạt Rotax-582 cho phép đạt tốc độ tối đa 115km/h, trần bay 3.000m, tầm bay 200-300km.

Năm 2005, Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ cho Quân chủng Phòng không – Không quân sản xuất thêm 4 chiếc VNS-41 đưa vào sử dụng làm nhiệm vụ huấn luyện tại Trung đoàn Không quân 916.

A6

Tuy nhiên, do những đặc điểm hạn chế của nó, cho đến nay, mặc dù đã có tổng cộng 5 chiếc VNS-41 được sản xuất, nhưng dường như chúng đã bị loại biên hoàn toàn. Một chiếc đang được trưng bày tại bảo tàng Phòng không – Không quân.

Năm 2005, máy bay không người lái M-400 cất cánh thành công

Trước thành công của M-100CT, đầu năm 2001, VKTPK-KQ đã khởi động dự án “Nghiên cứu thiết kế, chế tạo MBKNL điều khiển theo chương trình”, ký hiệu M-400. Thiết bị này có nhiều điểm tương đồng với Tổ hợp thiết bị bay DF-16 do Israel sản xuất mà chúng ta đã mua để nghiên cứu trước đó. Sau 4 năm nghiên cứu, thử nghiệm, ngày 15/9/2005, 2 chiếc MBKNL M400 mang phiên hiệu 405, 406 đã bay báo cáo thành công các bài bay tại sân bay Kép (Bắc Giang), với độ cao 2.000m, bán kính hoạt động 15 km. Sau đó, VKTPK-KQ tiếp tục cải tiến và nâng cấp M-400 lên độ cao 3.000m, tốc độ 250-280 km/h, bán kính hoạt động 30 km, có thể cất hạ cánh trên đường băng (đất hoặc bê tông).

A7 Máy bay M-400 có hình dáng nhỏ thường được dùng trong mục đích do thám, trinh sát, theo dõi mục tiêu của đối phương hay do thám những vùng hiểm trở, nguy hiểm, những vùng mà máy bay do thám cỡ lớn hay trực thăng không thể vào được. Ngoài ra nó còn phục vụ dân sự như quay phim, chụp ảnh địa hình, quan trắc môi trường, tìm kiếm cứu nạn v.v… Tính đến năm 2012 đã có 12 chiếc M-400 được chế tạo nhưng đến nay, tất cả đã ngừng hoạt động.

Ta có thể thấy những thế hệ máy bay đầu tiên do Việt Nam chúng ta chế tạo thành công vang dội ngày nào đều đã dần được “nghỉ hưu” do nhiều lý do khách quan như dần lạc hậu và không đáp ứng được nhu cầu huấn luyện và sử dụng trong thời đại mới,… Tuy nhiên,  từ những giải pháp kỹ thuật của các thế hệ máy bay “tiền bối” cùng kinh nghiệm mà đội ngũ kỹ thuật viên đi trước đã để lại cho thế hệ sau đã giúp cho chúng ta chế tạo được nhiều chủng loại máy bay hiện đại hơn và không thỉ đủ khả năng thay thế các dòng máy bay cũ mà còn đáp ứng nhu cầu huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trong thời đại công nghệ cao cho quân đội ta.

Mặc dù đã có thể sản xuất được máy bay có người lái, nhưng khoảng cách của chúng ta với thế giới quá lớn nên các dự án máy bay sau này, tất cả đều là các dự án về máy bay không người lái.

Sau đây, tôi sẽ giới thiệu cho các bạn những UAV thế hệ mới và hiện đại nhất cùng các thông số kỹ thuật ấn tượng mà Việt Nam chúng ta đã tự nghiên cứu và đưa vào sản xuất.

Những hậu duệ thời đại mới

Trong lĩnh vực công nghệ UAV, so với các nước trên thế giới, Việt Nam là nước đi sau; vì thế chúng ta đã áp dụng triệt để phương châm “Đi tắt đón đầu”, áp dụng kiến thức khoa học kỹ thuật tiên tiến của thế giới để chế tạo thành công nhiều chủng loại máy bay không người lái cho quân đội.

1. UAV VT-Pigeon

UAV VT-Pigeon là một sản phẩm của Viện hàng không vũ trụ Viettel, đảm nhận nhiệm vụ trinh sát mặt đất.

Mẫu UAV này có trọng lượng 26 kg, sải cánh 3,25 m; dải vận tốc hoạt động từ 80 đến 120 km/giờ; cự ly hoạt động 50 km, trần bay 3.000 m; thời gian bay liên tục 3 giờ.
Máy bay được trang bị camera quang học (EO Sensor) và camera ảnh nhiệt (IR Sensor) nên trinh sát được cả ban ngày lẫn ban đêm và truyền hình ảnh độ phân giải cao (Full HD) theo thời gian thực về trạm điều khiển mặt đất, cho phép phát hiện được mục tiêu tương đương người ở khoảng cách 3.000 m.uvav1vn

Thông tin được truyền trực tiếp theo thời gian thực từ camera trên máy bay về Trạm điều khiển với cự ly 50 km. Nếu ghi dữ liệu offline lưu vào thẻ nhớ thì đường truyền thông tin có thể lên tới 80 km.Máy bay hoạt động được trong điều kiện gió cấp 5 (dưới 38 km/giờ) trong khi bay.A9
Máy bay có tính cơ động cao, có thể cất, hạ cánh trên đường băng dã chiến hoặc cất cánh bằng máy phóng, hạ cánh bằng lưới thu nên rất thuận lợi trong việc triển khai hoạt động tại những khu vực có địa hình phức tạp.

2. UAV 02

Theo kênh quốc phòng Việt Nam, cuối năm 2014, sự xuất hiện của những chiếc UAV đầu tiên đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của đề án phát triển thiết bị bay không người lái gọi tắt là UAV của viện kỹ thuật quân chủng phòng không không quân. So với các thế hệ UAV trước đó, UAV-02 đã hiện thực hóa niềm khát khát khao chinh phục công nghệ sản xuất UAV quân sự hiện đại bằng việc tạo ra một sản phẩm UAV vượt trên mọi giới hạn từ trước tới nay về trần bay, bán kinh hoạt động và tốc độ và đặc biệt là đáp ứng được yêu cầu về tác chiến điện tử.A10

UAV-02 – Sản phẩm của Viện Kỹ thuật Phòng không – Không quân có các tính năng chiến kỹ thuật và công nghệ chế tạo vượt trội, có thể làm mục tiêu bay cho máy bay Su-30MK2 chặn kích và sử dụng vào các mục đích quân sự quan trọng khác như do thám, trinh sát.

UAV-02 được trang bị hai động cơ phản lực, sải cánh 2,8 m, chiều dài thân 2,5 m, tốc độ bay hành trình từ 250 đến 350 km/giờ, bán kính hoạt động 100 km, độ cao bay tối đa 8.000m; máy bay nặng 38 kg khi nạp đủ nhiên liệu, thời gian hoạt động tối đa là 45 phút.

Cận cảnh “buồng lái” điều khiển UAV-02 từ mặt đất

Cận cảnh “buồng lái” điều khiển UAV-02 từ mặt đất

Chương trình phần mềm điều khiển đã sử dụng các thuật toán thông minh, cho phép giám sát các thông số kỹ thuật trong quá trình UAV thực hiện nhiệm vụ; đồng thời tối ưu hóa khả năng điều khiển theo thời gian thực của máy bay.

3. UAV-03

A12

UAV-03 là sản phẩm thế hệ sau của UAV-02, khắc phục và lấp đầy những  giới hạn của mẫu UAV trước đó. UAV-03 nhỏ gọn hơn UAV-02, nhưng trần bay, tốc độ bay, bán kính hoạt động và thời gian bay vượt trội hơn hẳn.

Mục đích thiết kế của UAV-03 được đặt ra rõ ràng là tối ưu hóa các tính năng, kĩ chiến thuật giả định của một máy bay tiêm kích cho Su 30MK2 triển khai chặn kích trên không. Do đó, UAV-03 phải đạt được yêu cầu, thời gian cất cánh nhanh nhất, bay lâu nhất với tốc độ cận âm và thực hiện tư thế cơ động phức tạp. Những yêu cầu trên đã được giải quyết bằng một cấu trúc đặc biệt. Chúng ta có thể thấy một phần của cấu trúc đó chính là cánh hình mũi tên với các rãnh chỉnh dòng để giảm lực cản khi hoạt động ở tốc độ cao kết hợp với cánh mũi của máy bay, tạo nên một chiếc máy bay cực kì cơ động.

Tất cả những cải tiến ở trên UAV-03 đã tạo nên một thế hệ UAV ưu việt với tỉ nội địa hóa gần như tuyệt đối.

4. UAV VT-800

UAV VT-800 là một UAV đảm nhận chức năng trinh sát, làm mục tiêu bay cho máy bay tiêm kích Su 30MK2 và mục tiêu bay giả định cho các loại tên lửa phòng không như S-125-2TM và S-300PMU1.A13

Đây là một UAV có thể gọi là khá bí ẩn của Việt Nam do tập đoàn viễn thông quân đội Viettel sản xuất. UAV này đã xuất hiện trên một bản tin của kênh truyền hình QPVN trong khoảng hơn 1 giây và được thể hiện khá đầy đủ thông số ấn tượng của nó. Tuy nhiên, ngoài thông tin này ra, chiếc UAV này dường như không được tiết lộ thêm bất kì một thông tin nào khác nữa.

UAV VT-800 do Viettel sản xuất có chiều dài 4,07 m; chiều ngang khi sải cánh 2,3 m; khối lượng tối đa khi cất cánh : 330 kg; có thể bay liên tục trong thời gian 90 phút; vận tốc bay tối đa đạt mức Mach 0,85 ~ 1.000Km/h (vận tốc cận âm); độ cao tối thiểu 6 m; độ cao tối đa 10.500 m; khối lượng tải tối đa trên 60 kg. Tuy bán kính hoạt động vẫn chưa được công bố, nhưng dựa vào bán kính hoạt động của các thế hệ máy bay không người lái trước đó, ta có thể tự tin rằng bán kính hoạt động của VT-800 lên tới hàng trăm km và thậm chí chúng ta có thể nghĩ tới hàng nghìn km. Với thông số trên, ta có thể thấy nhiều điểm tương đồng với một tên lửa hành trình. Đặc biệt, vận tốc của UAV VT-800 còn ngang ngửa và có thể nói là lớn hơn tốc độ của loại tên lửa nổi tiếng của Mĩ Tomahawk (800 – 900 km/h). Do đó, việc UAV VT-800 không chỉ là một mục tiêu diễn tập của hệ thống Phòng không – Không quân Việt Nam mà còn có thể trở thành một vũ khí tấn công đối phương là hoàn toàn có thể xảy ra.

Đây sẽ là một vũ khí vô cùng quan trọng,  giúp cho bộ đội phòng không Việt Nam có thể tiếp cận với cách  huấn luyện mới và hiện đại, tiệm cận với những vũ khí tương tự trên thế giới, qua đó có thể nâng cao năng lực của bộ đội Phòng không – Không quân, góp phần bảo vệ vững chắc vùng trời của tổ quốc Việt Nam.

5. UAV HS-6L

UAV HS-6L là một sản phẩm của Viện Hàn Lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam cùng phối hợp với Bộ Công an. Đây là một UAV tầm xa đảm nhận chức năng nghiên cứu khoa học và bảo vệ an ninh quốc phòng.

Máy bay trinh sát điện tử không người lái tầm xa HS-6L, với sải cánh 22m, tải trọng 1.350kg, cự ly bay trên 4.000km hành trình, 35 giờ bay liên tục, trang bị động cơ Rotax 914 của Áo (cùng loại động cơ với chiếc UAV MQ-1 Predator nổi tiếng của Mĩ), có sử dụng vệ tinh dẫn đường và trên máy bay được tích hợp các thiết bị phục vụ nghiên cứu khoa học và thiết bị trinh sát điện tử phục vụ mục đích An ninh Quốc gia. HS-6L

Theo Bộ trưởng bộ khoa học và công nghệ Nguyễn Quân, nhiệm vụ chính của UAV HS-6L chính là tuần tra, giám sát các động thái trên biển Đông.

Đây là lần đầu tiên, chúng ta có thể tự mình sản xuất được một UAV có tất cả các thông số vượt trội đến như vậy. Với tầm bay lên tới 4000 km, chúng ta có thể thực hiện bay tuần tra các vùng biển đảo, bao gồm cả 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của đất nước.

Có thể thấy các sản phẩm UAV của Việt Nam, do chính bàn tay người Việt Nam chế tạo với các tính năng ngày càng hoàn thiện là minh chứng cho khát vọng chinh phục đỉnh cao công nghệ mới của Việt Nam. Thành công ấy, cho phép chúng ta tin tưởng vào khả năng làm chủ công nghệ của những thế hệ UAV quân sự mới với những tính năng ưu việt hơn nữa trong tương lai và tiến xa hơn là những chủng loại UAV có khả năng tấn công tầm xa trong biên chế. Và chúng ta có thể kỳ vọng rằng, một ngày không xa, Việt Nam sẽ sản xuất được máy bay chiến đấu có  người lái hiện đại ngang tầm những cường quốc quân sự trên thế giới.

Đến đây, chúng ta có thể khẳng định một điều, Việt Nam đã có khả năng sản xuất được các chủng loại máy bay không người lái hiện đại phục vụ mục đích bảo đảm an ninh quốc phòng, bảo vệ vững chắc chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc.

(Theo Cờ Đỏ Sao Vàng)

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@nguyenxuanphuc.org
Thích và chia sẻ bài này trên: